KỈ NIỆM 250 NĂM SINH DANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI, ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU (1765 – 2015) Nguyễn Du và Kiều - nhạc khúc của định mệnh

        Xem với cỡ chữ    

...Chưa phải Kim Trọng, chẳng thể Thúc Sinh, không là Từ Hải, chính Nguyễn Du mới là tri kỉ đích thực của đời Kiều. Ông tái tạo và vĩnh viễn hóa Cái Đẹp mang kiếp bi ai. Ông nương tựa vào Kiều - và ngược lại - để tồn tại mãi mãi. Ông và nàng là hai nhưng là một mà thôi!... Tất cả gói trọn trong một âm thanh đứt ruột của khúc bạc mệnh Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ... Đó cũng là Tiếng chim hót trong bụi mận gai, chỉ ngân lên một lần rồi chết, rồi hết, rồi tan biến giữa muôn trùng và phục sinh trong lòng người đọc…

1. Trong bi kịch Đoạn trường tân thanh, Thúy Kiều có bao nhiêu lần tay phím nắn nót cung đàn là câu hỏi có nhiều cách trả lời. Có người cho rằng, Thúy Kiều đánh đàn bốn lần: lần thứ nhất, ở vườn Thúy, theo yêu cầu của Kim Trọng; lần thứ hai, theo lệnh của Hoạn Thư khi mở tiệc đón chồng; lần thứ ba, bị Hồ Tôn Hiến bắt ép; và lần thứ tư, lại theo lời mời của Kim Trọng vào buổi đoàn viên. Có người thì nghĩ rằng Kiều đánh đàn năm lần; ấy là tính thêm một lần khi Mã Giám Sinh Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ. Nhiều người yêu Truyện Kiều thì đếm cả thảy có tám lần Kiều phải nâng chiếc hồ cầm (1). Năm lần đã kể trên, thêm ba lần khác: Kiều bị bắt buộc phải đàn khi tiếp khách; Kiều đàn cho Thúc Sinh nghe lúc hai người gặp nhau ở lầu xanh và khi Hoạn Thư hỏi đến nghề chơi mọi ngày

Thực ra, không phải 4, 5 hay 8 mà rất nhiều lần Kiều phải mượn ngón hồ cầm hoặc để chiều lòng khách hoặc phải tựa nương vào thứ âm thanh huyễn hoặc lòng người ấy để giãi bày tâm trạng. Đoạn đời ở chốn thanh lâu, với Cuộc say đầy tháng, trận cười thâu đêm, có lẽ, rất lắm lần Kiều phải so dây nắn phím… Bao nhiêu lần đàn, đàn cho ai nghe, ngay cả Kiều, đoan chắc nàng cũng không nhớ hết... Chuyện ở đây không phải là số lần mà tiếng đàn ấy đã bộc lộ những nỗi niềm gì, quan trọng hơn, Nguyễn Du đã gửi vào đó những thông điệp thẩm mĩ nào?!...

2. Nhưng trước hết, hãy nói đến những lúc nàng Kiều của cụ Nguyễn đã… không đàn. Đáng chú ý nhất là khoảng thời gian 5 năm chung sống với người anh hùng Từ Hải, ta không thấy âm nhạc vang lên. Âm thanh của của kẻ hùng cứ một phương hải tầnOm sòm trống trận rập rình nhạc quân, không hợp với loại cung thương vốn được xem là chỉ làm mê đắm lòng người (?!). Hay khi làm đệ nhất phu nhân, những khúc bi ca đã tỏ ra lạc lỏng trên nhung gấm?!... Nguyễn Du không vô tình, không bỏ sót; tương tự, ông đã không để cho Kiều làm một câu thơ nào trong ngần ấy thời gian ăn ở với người có tiếng là gươm đàn nửa gánh. "Thơ không phải mối bận tâm của kẻ chọc trời khuấy nước; hay thi sĩ Kiều - như bao nhiêu thi sĩ khác trên thế gian này - khi sống trong cảnh đời nhung gấm bỗng đột nhiên cụt hứng?!" (2). Nghệ thuật không được tạo tác khi nghệ sĩ đang ở vị trí quyền uy!...

Trên nẻo đường cát bụi, cũng rất nhiều lúc, tác giả Truyện Kiều đã cho "nhạc công" Kiều chơi đàn… liên tục. Khi thì bị họ Mã Ép cung cầm nguyệt lúc thì khách làng chơi bày trò vui "tinh thần" với Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa; ngay cả khi tiếp chàng Thúc thì Kiều cũng sẵn lòng Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn; rồi lúc muốn chứng minh và lấy lòng chị Hoạn, Kiều phải Nỉ non thánh thót dễ say lòng người v.v… Đọc mấy câu thơ vừa trích, mới thấy cái thứ "nghệ - thuật - đàn" được Kiều sử dụng (đúng hơn là của Nguyễn Du thác vào) linh động, ứng biến và tội nghiệp đến dường nào!... Với Kiều, nhạc ấy nào phải tiếng lòng, nào phải tim gan nhỏ máu, chỉ là phương tiện, là "nhạc luật xô bồ", là chấp nhận "tha hóa nhất thời" để yên thân, để thoát nạn, để tính chuyện tương ngộ dài lâu. Tiếng đàn tri âm đâu có dễ dâng tặng mọi người mà mong cầu, câu nệ. Nàng không chỉ là người chơi đàn siêu hạng mà còn là người sáng tác có một không hai. Nhưng quan sát kỹ thì cụ Nguyễn không để Kiều chơi một đoạn sáng tác, ứng tác nào, một giai điệu nào rõ rệt với những hạng người vừa kể. Bởi họ đâu muốn, đâu đủ sức mà bắt nhịp tri âm! Nguyễn Du nói về cuộc chơi đàn mà câu thơ im bặt, lạnh tanh, âm thanh không hề rung động. Vui thì vui gượng kẻo là - Ai tri âm đó, mặn mà với ai?!... Đàn mà như thế là không đàn, thậm chí, còn tệ hơn là "phản âm", là đập vỡ cây đàn. Tiếc thay, Kiều (và Nguyễn Du) không có chọn lựa nào khác !...

3. Bây giờ, hãy bước vào thế giới âm thanh của những khúc nhạc lòng, mà ở đó, cả Kiều và Nguyễn Du đều hiện ra nỗi cô đơn vĩ đại với những khát vọng không thành trong hòa tấu đoạn trường của hai số phận. Không, của rất nhiều số phận.

Với Kim Trọng - người tình chung, kẻ ám ảnh suốt cuộc đời Kiều như một mối tơ lòng đứt nối, mãi mãi gần gũi mãi mãi cách xa - hai lần tiếng đàn Kiều được tác giả dụng công mô tả. Lần đầu tiên, Nguyễn Du đã kéo cả đất trời chuyển rung dời đổi vào những thang âm:

So lần dây vũ dây văn

Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.

Khúc đâu Hán - Sở chiến trường,

Nghe ra, tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau.

Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu

Nghe ra như oán như sầu phải chăng?

Kê Khang, này khúc Quảng Lăng

Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân.

Quá quan này khúc Chiêu Quân

Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa…"

Mười bốn dòng đặc tả tiếng đàn. Mặc dù không tự nguyện - Đã lòng quân tử dạy thì phải vâng - nhưng trước thái độ dâng đàn ngang mày của Kim Trọng, Kiều vẫn hứng khởi chơi một thứ nhạc theo cách của riêng mình. Nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê đã viết khá tỉ mỉ về loại đàn và những bản đàn mà Kiều tấu lên trong thuở ban đầu gặp gỡ: "chúng ta có thể nghĩ rằng bản nhạc Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe có lẽ thuộc về loại vũ khúc đó. Đặc biệt nhất trong bài Thập diện mai phục từ chương ba đến sau có nhiều đoạn ngón tay giữa của bàn tay trái phải chen vào các dây làm cho tiếng đàn khảy không phát ra các âm có độ cao nhất định mà nghe như tiếng gươm giáo chạm vào nhau. Nguyễn Du chẳng có câu: Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. Vì vậy bản đàn Thúy Kiều đàn chỉ có thể là Thập diện mai phục. Sau đó, đến câu Khúc đâu Tư Mã phượng cầu thì ai cũng biết rằng bản đàn đó là Phụng cầu hoàng mà một danh cầm đời Hán, Tư Mã Tương Như đàn cho Trác Văn Quân nghe..."

Rõ ràng, Nguyễn Du mượn các điển cố, khúc ca xưa để khẳng định tài nghệ tuyệt vời của Kiều đồng thời bộc lộ niềm say đắm, nỗi biệt ly, dự báo tan vỡ cho cuộc tình vừa chớm. Nhưng điều đáng nói là tổ khúc "bạc mệnh" do chính nàng sáng tác thì Kiều đã không cho nổi lên. Vì sao? Nàng không muốn cho Kim Trọng phải sớm sầu đau hay biết rằng chàng công tử trẻ tuổi hào hoa chưa đủ bản lĩnh để chấp nhận một sự "chuyển tải" thông điệp quá sức? Mới có mấy khúc nhạc dạo mà thư sinh ấy đã phải ngơ ngẩn sầu, Khi tựa gối, khi cúi đầu - Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày… Lời nhận xét của Kim Trọng lại còn khá bàng quan: Rằng: "Hay thì thật là hay - Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!". Người tri kỉ không thốt lên câu ấy. Anh chỉ muốn nhạc vui sao?! Riêng chi tiết này sẽ dự báo cho một nhận xét còn nghi ngại về sau: Kim Trọng, ngay từ đầu, vẫn chưa phải là người đàn ông mong đợi của đời Kiều, anh còn đứng thấp hơn một bậc ở vạch xuất phát.

Thời gian vẫn thế, trôi. Sau mười lăm năm luân lạc, Kiều một lần nữa hầu đàn người năm cũ:

Phím đàn dìu dặt tay tiên,

Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa.

Khúc đâu đầm ấm dương hòa,

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh ?

Khúc đâu êm ái xuân tình

Ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên!

Trong sao châu rỏ duềnh quyên

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!

Lọt tai nghe suốt năm cung,

Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao.

Trong ngày tái ngộ, tiếng đàn Kiều không còn u uất mà có nét đầm ấm dương hòa. Vẫn với những điển tích, đoạn thơ nói về lẽ tái sinh, về sự sống lại, về chút ấm áp xuân tình… Bản đàn nghe như hợp xướng mười lăm năm lưu lạc, có não nùng mà cũng có xôn xao, tựa như một khải hoàn ca! Nhưng Kim Trọng, sau bao nhiêu năm từng trãi, vượt qua bao cay đắng, sao câu hỏi vẫn rất cũ, vẫn một nhận xét như người ngoài cuộc, có cũng như không (hay chàng đã đứng ngoài cuộc quá lâu rồi vậy?):

Chàng rằng: "Phổ ấy tay nào?

Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy ?

Tẻ vui bởi tại lòng này,

Hay là khổ tận, đến ngày cam lai?"

Mặc dù, một lần nữa Kiều khẳng định mình chơi đàn vì tri kỉ nhưng tại sao lại có câu trả lời vừa an nhiên vừa quặn thắt thế này:

Nàng rằng: -"Vì chút nghề chơi

Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu.

Một phen tri kỉ cùng nhau,

Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa !"

Người nghệ sĩ đến lúc tính chuyện Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa chỉ có thể nằm trong hai khả năng: hoặc không còn gì để sáng tạo nữa hoặc vì sự ép buộc nào đó không thể nối tiếp nghiệp dĩ, đành "rửa tay gác kiếm". Cũng đúng thôi, Nguyễn Du đã gán vào Kiều một chữ giải thoát gượng ép - Sự đời đã tắt lửa lòng - Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!...- mà không còn cách giải quyết nào khác. Đó là bế tắc của một thiên tài, bởi ông đã không muốn, không đành để Kiều chấm dứt nghiệp chướng ngay trên ngọn sóng Tiền Đường. Nàng sống với Kim Trọng mà cũng như đã chết thì đàn địch liệu có ích gì?! Câu thơ cuối, ngẫm kĩ, chính là một khúc đoạn trường nữa giữa ngày sum họp, một bi kịch không chỉ một lần của người nghệ sĩ!... Không thể chơi nữa, không thể viết nữa, có gì bế tắc và đau đớn hơn?!...

          4. Hãy ngược trở lại với lần "biểu diễn" bất khả kháng ở nhà Hoạn Thư. Người ta cho rằng, người nghệ sĩ tự do, tự giác thể hiện tác phẩm thì mới có sự sáng tạo độc đáo. Chưa hẳn. Bao nhiêu cây bút tự do nào đã làm nên chuyện để đời. Và đã có không ít nghệ sĩ vì hoàn cảnh trói buộc mà cất nên tiếng ca lảnh lót vang động ngàn năm. Lúc này, mặc dầu bị buộc phải hầu rượu, đánh đàn nhưng Kiều đã chơi bản nhạc theo cách của mình, không run sợ, thậm chí sẵn sàng chấp nhận cái chết dưới máu ghen Hoạn Thư, tiếng đàn vì thế đầy hứng khởi và dữ dội:

Nàng đà tán hóan tê mê

Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.

Bốn dây như khóc như than

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!

Cũng trong một tiếng tơ đồng

Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm

Giọt châu lả chả khôn cầm

Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương

Tiểu thư lại thét lấy nàng:

"Cuộc vui gãy khúc đoạn trường ấy chi?

Sao chẳng biết ý tứ gì?

Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi!"

Khúc đoạn trường ấy không rõ từ điển tích nào, Nguyễn Du không nói. Nhưng nàng chơi đàn trong một trạng thái xuất thần đặc biệt của nỗi bi thiết chưa từng có trước đó. Ở đây, Kiều không nghĩ việc làm ngược ý họ Hoạn - Hoạn nào có kể gì. Nàng chỉ muốn một lần cất lên tiếng khóc của loài chim di trú bị trúng tên rỉ máu cất lên tiếng hót não nùng nhưng đầy khao khát sự sống và tự do. Khác với Kim Trọng, Thúc Sinh cảm nhận tiếng đàn như là người trong cuộc, thấy tan nát lòng và biết khóc thầm khi cùng trong một tiếng!... Có thể nói, Thúc Sinh cũng là một tri âm trong khoảnh khắc đời Kiều. Nên đến màn báo oán, Kiều mới nhẹ nhàng nhắc lại chuyện năm xưa: Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?... Thúc Sinh không nhớ mới lạ!...

 5. Ở trên là những cung đàn mà Kiều đã cất lên với tư cách nhạc công. Hãy tìm đến khúc ca do chính nàng sáng tạo - một nhạc sĩ Kiều. Khi Hồ Tôn Hiến bắt Thúy Kiều thị yến dưới màn, Nguyễn Du đã viết những vần thơ kì lạ nhất:

Một cung gió thảm mưa sầu,

Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay!

Ve ngâm vượn hót nào tày

Lọt tai, Hồ cũng nhăn mày rơi châu.

Hỏi rằng: - "Này khúc ở đâu?

Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay!"

Thưa rằng: - "Bạc mệnh khúc này

Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ

Cung cầm lựa những ngày xưa

Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây!"

Đây là lần đầu tiên và là lần cuối cùng ta nghe Thúy Kiều chơi khúc bạc mệnh oán - bài ca viết riêng cho mình từ ngày êm đềm trướng rủ màn che để làm một dự báo số phận, thấu đạt chỗ kết thúc bi kịch đời mình. Từ Bốn dây như khóc như than ở nhà họ Hoạn đến Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay trước mặt Hồ Tôn Hiến là sắc độ thể nhập của nhạc âm ở hai cảnh giới khác biệt. Từ lệ rơi đến máu chảy là kết thúc một đoạn trường. Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau... Tiền Đường đã kề bên rồi - Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây... Khúc bạc mệnh ấy như một khốc văn không lời của Nguyễn Du khóc tặng người tri kỉ. "Khốc văn" ấy làm rơi nước mắt vốn cạn kiệt lâu rồi của quan Tổng đốc đang say men chiến thắng. Từ Hải chết đứng vì Kiều. Hồ Tôn Hiến chết điếng vì một tài hoa mệnh bạc.

Chưa phải Kim Trọng, chẳng thể Thúc Sinh, không là Từ Hải, chính Nguyễn Du mới là tri kỉ đích thực của đời Kiều. Kiều nhờ ông tái tạo và vĩnh viễn hóa Cái Đẹp mang kiếp bi ai. Ông nương tựa vào Kiều - và ngược lại - để tồn tại mãi mãi. Ông và nàng là hai nhưng cũng là một mà thôi!... Tất cả gói trọn trong một âm thanh đứt ruột của khúc bạc mệnh Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ... Đó cũng là Tiếng chim hót trong bụi mận gai (3), chỉ ngân lên một lần rồi chết, rồi hết, rồi tan biến giữa muôn trùng và phục sinh trong lòng người đọc.

Nguyễn Minh Hùng

(1) "Cây đàn trong tay Thuý Kiều vừa có thùng đàn tròn như mặt trăng: Trên hiên treo sẵn cầm trăng; cây đàn ấy lại có bốn dây - Bốn dây to nhỏ nên vần cung thương. Cây đàn đó phải là một loại với Hồ cầm - Nghề riêng ăn đứt, Hồ cầm một chương. Sau khi xem trong sách Thích danh và Tự điển Từ Nguyên - Từ Hải thì chỉ có ba cây đàn thuộc về Tì Bà loại: tứ huyền Tì bà, ngũ huyền Tì bàNguyễn Tì bà. Ba cây đàn ấy đều có thể được gọi là Hồ cầm. Nhưng hai cây đầu thì thùng đàn hình bầu dục chỉ có cây Nguyễn Tì bà tên thật là Nguyễn cầm do Nguyễn Hàm đời Tấn chế ra. Đàn có thùng hình tròn như mặt trăng, có bốn dây, cần dài hơn Nguyệt cầm của Trung Quốc, hiện đã thất truyền tại Trung Quốc, chỉ còn hình vẽ của Nguyễn cầm trong động Đôn Hoàng và một cây đàn nguyên bản trong Bảo tàng viện Shosoin tại Nara, Nhựt Bổn" (Theo GS. Trần Văn Khê).

(2) Nguyễn Minh Hùng - Ngôi thứ tư số ít - Nxb Văn nghệ, 2006.

(3) Tác phẩm kinh điển của Colleen McCullough. 

In Quay lại chia sẻ bài viết

Các tin khác








0 0 0 7 8 6 0 2 2 1
Hôm nay: 4628
Hôm qua: 8383
Tháng này: 195605
Tổng cộng: 0007860221